Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124
Physical Address
304 North Cardinal St.
Dorchester Center, MA 02124

Chào các bạn! Có phải bạn đang tìm kiếm lời giải chi tiết cho các bài tập Toán lớp 7 ở trang 20 sách Cánh Diều tập 1 không? Mình hiểu cảm giác ấy, khi mở sách ra thấy một loạt bài tập từ Bài 4 đến Bài 7, đôi lúc sẽ thấy hơi choáng ngợp. Đừng lo, mình đã chuẩn bị phần hướng dẫn giải bài tập trang 20, 21 này một cách rõ ràng và dễ hiểu nhất, giúp bạn nắm vững kiến thức và tự tin hoàn thành bài tập của mình. Cùng bắt đầu khám phá nhé!
Trang 20 sách Toán 7 Cánh Diều tập 1 là nơi chúng ta bắt đầu làm quen thật sâu với khái niệm lũy thừa. Ở đây, sách định nghĩa rõ ràng: một lũy thừa có dạng xⁿ, trong đó x là cơ số và n là số mũ. Điều này giúp ta gọi tên chính xác từng phần, chẳng hạn như với (−3/2)⁴, cơ số là −3/2, số mũ là 4 và giá trị tính được là 81/16.
Bài học này không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn đưa ra nhiều bài tập thực hành ngay tại trang. Chẳng hạn, bài 1 yêu cầu viết các tích dưới dạng lũy thừa, còn bài 2 lại hướng dẫn so sánh các lũy thừa thông qua việc tính toán. Qua đó, ta thấy được sự liên hệ mật thiết giữa các quy tắc nhân, chia lũy thừa cùng cơ số.
Việc nắm vững bài học này rất quan trọng, vì nó là nền tảng cho những phép tính phức tạp hơn sau này. Hiểu rõ bản chất, ta sẽ thấy toán học không hề khô khan mà ẩn chứa những quy luật rất đẹp và chặt chẽ, từ đó xây dựng sự tự tin khi học tập.
Bài 4 trang 20 sách Toán 7 Cánh Diều tập 1 là một bài tập thực hành rất hay, giúp các em củng cố kỹ năng tính toán và viết gọn kết quả dưới dạng lũy thừa. Bài toán yêu cầu chúng ta viết kết quả của các phép tính phức tạp thành một lũy thừa duy nhất của số hữu tỉ a cho trước.
Chẳng hạn, ở câu a với a bằng 8/9, ta có biểu thức (8/9)^3 nhân với 4^3 và 2^3. Bí quyết để giải quyết những bài toán này là phải nhận ra mối liên hệ giữa các cơ số. Ta có thể viết 4 và 2 về dạng có chứa phân số 8/9 không? Thực ra, cách làm thông minh hơn là biến đổi tất cả về cùng một cơ số khác, như cơ số 2, rồi sau đó mới gộp lại thành lũy thừa của a. Quá trình này rèn luyện cho chúng ta khả năng linh hoạt trong biến đổi số học và nắm vững các quy tắc nhân, chia lũy thừa.
Khi hoàn thành bài tập này, các em không chỉ thu được một đáp số cuối cùng mà còn hiểu sâu hơn về bản chất của phép tính lũy thừa. Đây chính là nền tảng quan trọng cho những kiến thức phức tạp hơn về sau, đồng thời phát huy được năng lực tự học và tư duy toán học một cách vững chắc.

Bài 5 trang 20 trong sách Toán 7 Cánh Diều tập 1 là một phần quan trọng của chủ đề “Phép tính lũy thừa với số mũ tự nhiên của một số hữu tỉ”. Nội dung này giúp các em củng cố và vận dụng linh hoạt các quy tắc về lũy thừa đã được học.
Thông qua việc giải các bài tập ở đây, chúng ta sẽ thành thạo hơn trong việc tính toán, so sánh các lũy thừa hay tìm số chưa biết. Đây chính là nền tảng cần thiết cho những kiến thức phức tạp hơn về sau.
Nếu gặp khó khăn, các em có thể tham khảo lời giải chi tiết bài 5 và các bài khác từ trang 20 đến 21. Việc xem kỹ các bước giải mẫu sẽ giúp hiểu sâu bản chất vấn đề, từ đó tự tin giải quyết những dạng toán tương tự. Hãy kiên nhẫn luyện tập, mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.

Bài 6 trang 20 sách giáo khoa Toán 7 Cánh Diều tập 1 đưa chúng ta đến với một bài toán thực tế rất thú vị về tỉ lệ bản đồ. Đề bài cho biết, trên một bản đồ tỉ lệ 1:100 000, một cánh đồng lúa hình vuông được vẽ với cạnh dài 0,7cm. Nhiệm vụ của chúng ta là phải tính diện tích thực tế của cánh đồng ấy theo đơn vị mét vuông.
Để giải quyết bài toán này, trước hết ta cần tìm độ dài thực tế của một cạnh cánh đồng. Với tỉ lệ bản đồ đã cho, độ dài thực tế sẽ là 0,7cm nhân với 100 000, tức là 70 000 cm. Chuyển đổi sang đơn vị mét, ta được 700m. Vì cánh đồng có hình vuông nên diện tích thực tế chính là bình phương độ dài cạnh.
Vậy diện tích cánh đồng là 700m nhân 700m, bằng 490 000 mét vuông. Qua bài tập này, chúng ta không chỉ được ôn luyện phép tính lũy thừa mà còn thấy được sự gần gũi của toán học trong cuộc sống, từ bản đồ đến việc đo đạc diện tích đất đai thực tế một cách chính xác.

Bài 7 trang 20 trong sách Toán 7 Cánh Diều tập 1 đưa chúng ta đến với một ứng dụng thú vị của phép tính lũy thừa trong thực tế: tính khoảng cách từ Mặt Trời đến Trái Đất. Đề bài cho biết vận tốc ánh sáng xấp xỉ 299.792.458 mét mỗi giây và thời gian ánh sáng truyền từ Mặt Trời đến chúng ta là 8 phút 19 giây.
Để giải bài toán này, trước hết chúng ta cần quy đổi thời gian về cùng đơn vị giây. Ta có 8 phút bằng 480 giây, cộng thêm 19 giây nữa thành 499 giây. Khoảng cách cần tìm chính là tích của vận tốc và thời gian, tức là lấy 299.792.458 nhân với 499.
Phép tính này rất lớn, nhưng nhờ nắm vững kiến thức về phép tính với số hữu tỉ và lũy thừa, chúng ta có thể thực hiện một cách có hệ thống. Qua bài tập này, ta không chỉ rèn luyện kỹ năng tính toán mà còn cảm nhận được sự kỳ diệu của toán học khi giúp đo đạc những khoảng cách vũ trụ khổng lồ.
Kết quả cuối cùng cho ta một con số cụ thể, giúp hình dung phần nào về độ rộng lớn của không gian. Đây là một ví dụ sinh động cho thấy toán học chính là chìa khóa để khám phá thế giới tự nhiên.

Trong chương trình Toán lớp 7 Cánh Diều, Bài 3 về “Phép tính lũy thừa với số mũ tự nhiên của một số hữu tỉ” ở trang 20, 21 Tập 1 là một nội dung quan trọng, giúp các em làm quen và thành thạo các phép toán mới. Các bài tập từ 1 đến 11 được thiết kế rất bài bản, bắt đầu từ việc nhận biết và tính toán cơ bản, cho đến những bài toán vận dụng đòi hỏi tư duy hơn.
Nhiều kênh học tập như Ông giáo math hay Học Toán Tin 365 của thầy Đức đã có những video hướng dẫn giải chi tiết, sinh động, giúp học sinh dễ hình dung. Việc tự giải các bài tập này không chỉ củng cố kiến thức về lũy thừa, mà còn rèn luyện kỹ năng tính toán cẩn thận và khả năng tự học.
Giải thành thạo các dạng bài ở đây chính là nền tảng vững chắc cho những chương phức tạp hơn sau này. Các em hãy chú ý đến cách viết lũy thừa, quy tắc nhân chia lũy thừa cùng cơ số, và đặc biệt là cách xử lý khi cơ số là phân số hay số thập phân. Chỉ cần chăm chỉ luyện tập, chắc chắn các em sẽ thấy phần kiến thức này thật thú vị và hữu ích.

Trong chương trình Toán lớp 7 tập 2 trang 20, chúng ta được làm quen với bài toán thực tế rất thú vị về đại lượng tỉ lệ. Bài toán cho biết sĩ số bốn lớp 7A, 7B, 7C, 7D lần lượt là 38, 39, 40 và 40 học sinh. Số sách các lớp quyên góp tỉ lệ thuận với số học sinh, và lớp 7D góp nhiều hơn lớp 7A là 4 quyển.
Để giải bài này, ta gọi số sách mỗi lớp góp được lần lượt là a, b, c, d. Vì chúng tỉ lệ với số học sinh nên ta có dãy tỉ số: a/38 = b/39 = c/40 = d/40. Áp dụng tính chất dãy tỉ số bằng nhau và dữ kiện lớp 7D hơn lớp 7A 4 quyển, ta sẽ tìm ra số sách cụ thể mỗi lớp đã đóng góp.
Cùng trang này còn có nhiều dạng bài khác về đại lượng tỉ lệ nghịch, như bài toán 20 công nhân đóng tàu trong 60 ngày. Nếu giảm còn 12 công nhân, thời gian sẽ tăng lên, giúp ta hiểu sâu hơn mối quan hệ nghịch đảo giữa số người và số ngày hoàn thành công việc. Những bài tập này rất thiết thực, giúp vận dụng toán học vào đời sống.

Vậy là chúng ta đã cùng nhau đi qua những bài tập đầu tiên ở trang 20, một cột mốc nhỏ nhưng rất quan trọng. Những phép tính, những con số tưởng chừng khô khan ấy thực ra chính là nền tảng vững chắc đầu tiên cho cả chặng đường Toán học lớp 7 phía trước. Hy vọng qua phần luyện tập này, bạn đã cảm thấy tự tin hơn để bước tiếp. Hãy cứ kiên nhẫn, từng bước một, vì mỗi bài toán giải được hôm nay chính là chìa khóa mở ra những bài học mới mẻ và thú vị hơn ngày mai. Cùng giữ vững tinh thần ấy nhé!